Mài kẽ liên quan đếnviệc giảm chiều rộng gần xa của một số răng nào đó để tạo khoảng. Các răng thường được mài kẽ là các răng cửa hàm dưới. Những răng khác bao gồm các răng trước hàm trên và các răng cối nhỏ của cả hai cung hàm cũng có thể được mài kẽ để tạo khoảng trống. Các răng được chọn tùy thuộc vào:

  • Vị trí kích thước răng thừa, vùng trước hàm dưới hoay hàm trên, hoặc vùng sau hàm dưới hay hàm trên.
  • Lượng mất cân xứng
  • Độ dày men răng hiện diện ở các răng trong vùng
  • Tình trạng sâu răng hoặc vệ sinh răng miệng của bệnh nhân

Chỉ định mài kẽ

Được thực hiện khi cần khoảng tối thiểu (2.5 – 3 mm)

  • Thường được thực hiện khi có sự bất cân xứng về kích thước răng theo chỉ số Bolton (ít hơn 2.5mm)
  • Thường được thực hiện khi vùng răng dưới thừa nhiều, điều này không có nghĩa là nó không được thực hiện ở những vùng khác trên cung hàm.

Chống chỉ định mài kẽ

  • Bệnh nhân dễ bị sâu răng
  • Không thực hiện mài kẽ khi bệnh nhân trẻ tuổi với răng có buồng tủy lớn

Thủ thuật

Việc mài kẽ liên quan đến ba bước:

  1. Đánh giá khoảng trống cần thiết
  2. Lựa chọn răng và lượng men răng cần mài
  3. Mài men

Đánh giá khoảng trống cần thiết

Phân tích đường kính cung hàm hoặc phân tích Carey được dùng để đánh giá khoảng trống cần thiết cho hai cung hàm. Phân tích Bolton cũng có thể được dùng để đánh giá lượng răng thừa và để xác định vùng cần mài bớt.

Lựa chọn răng và lượng men cần mài

Các răng thường được mài kẽ nhất là các răng cửa hàm dưới nhưng tất cả các răng ngoại trừ răng cối lớn bị gắn khâu thì đều có thể được mài kẽ. Các răng trước hàm trên có thể được mài kẽ nếu như kích thước răng vị dư ở vùng răng trước và độ dày men răng đủ.

Để đánh giá độ dày men răng, người ta khuyên nên chụp phim quanh chóp trong miệng. Kỹ thuật côn dài là lý tưởng nhằm giảm khả năng hình ảnh bị biến dạng. Không quá một nửa độ dày men răng được loại bỏ. Người ta khuyên nên phân bố khoảng trống cần mài lên một lượng lớn răng và giữa mặt gần và mặt xa, như vậy giảm lượng men bị mài ở một vị trí nào đó.

Mài men

Mài men thường được thực hiện bởi:

  • Dải kim loại mài kẽ: Dải kim loại với các phân tử mài mòn gắn sẵn trên bề mặt. Chúng thường có một mặt không làm việc, chẳng hạn như chỉ có một mặt được gắn các phân tử mài mòn. Cây giữ dải mài kẽ được bán sẵn trên thị trường hỗ trợ cho việc sử dụng dải mài kẽ tốt hơn. Tùy thuộc vào kích thước các hạt gắn trên dải kim loại và dải mài kẽ có thể chia làm dải thô, trung bình hoặc mịn. Thường thì dải mịn được sử dụng nhiều vì nó tránh việc làm trầy xước men răng.
  • Đĩa kim cương đục lỗ: Đĩa kim cương đục lỗ được sử dụng rộng rãi cho mục đích này. Chúng tương đối mềm dẻo và mài kẽ cả hai răng kế cận nhau.
  • Mũi khoan: Mũi khoan thẳng và thuôn có thể được sử dụng để mài kẽ. Chúng thường để lại sẹo sâu trên men răng và vì vậy cần dũa lại bằng dải kim loại mài kẽ để làm bóng vùng này.

Răng được mài kẽ có khuynh hướng dễ nhạy cảm hơn vì giảm chiều dày của men răng. Điều này dẫn đến nguy cơ nhạy cảm và sâu răng. Bề mặt men răng bị trầy cũng dễ dính mảng bám hơn. Điều này cần một chế độ vệ sinh răng miệng cẩn thận và sử dụng flouride. Những việc này giúp giảm nhạy cảm và bảo vệ răng khỏi vị axit trong thức ăn tấn công gây sâu răng.

Ưu điểm của mài kẽ

  • Có thể tránh việc nhổ răng ở những trường hợp nằm trong ranh giới khoảng cần thiết tối thiểu.
  • Có thể giảm kích thước những răng có kích thước vượt quá, đặt lồng múi, cắn phủ và cắn chìa tốt hơn.
  • Tiếp xúc diện rộng có thể làm kết quả ổn định hơn.
  • Những vùng răng không thẳng có thể được sửa chữa mà không làm liên quan đến quá nhiều răng, đặc biệt là ở những bệnh nhân trưởng thành.

Nhược điểm của mài kẽ

Nhạy cảm thường được thấy nhất khi thực hiện thủ thuật này

  • Bề mặt men răng gồ ghề tăng nguy cơ bị sâu răng
  • Khó khăn trong việc tái tạo lại hình dáng răng. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp răng trước hàm trên. Hình dạng răng được tạo ra có thể không thẩm mỹ.
  • Mất tiếp xúc bên có thể dẫn đến dắt thức ăn